Con thằn lằn “đeo ba lô”

Hạng mục Tự do – Giải Ba

    Cũng là một con thằn lằn, nhưng con thằn lằn này rất lạ: Nó “đeo ba lô”! Ngang lưng nó gồ lên một khối u xù xì, xanh xám. Khối u giống hệt chiếc ba lô của bố hay của chú Hùng. Giữa đám thằn lằn mập mạp, tốt mã, con “đeo ba lô” có dáng vẻ của một người… lính chiến. Chàng “lính chiến” ấy cũng gầy gò, đen đúa như bao người lính chiến dãi dầu sương gió…

    Tối tối, cứ đúng 7 giờ, con “đeo ba lô” lại bò ra. Nó bước đi đĩnh đạc – oai phong mà không kiêu kì, khiêm tốn mà không hèn hạ. Chọn vị trí thích hợp, con thằn lằn bắt đầu “bài binh bố trận”. “Vọng gác” của nó là một hốc tường nhỏ xíu, khuất nẻo nhưng không quá xa ngọn đèn nê-ông. Dán mình trong cái vọng gác ấy, “đeo ba lô” xoay đầu qua lại. Đôi mắt bé tí, linh lợi nhìn chằm chằm, quan sát toàn cảnh “trận địa”. Kia rồi! Một gã thiêu thân lớ ngớ lọt vào “tầm ngắm”. Con thằn lằn rướn cong người, đuôi ve vẩy. “Phốc” một cái, nó mang cả chiếc ba lô to kềnh lao vụt ra, đớp gọn. Nuốt ực xong, nó lè lưỡi liếm mép, chép miệng, rồi lại mang ba lô biến vào vọng gác. Tác phong nó chuẩn xác, cần mẫn, trang nghiêm như một người lính mẫu mực!

    Không chỉ “lính” trong lúc kiếm mồi, con “đeo ba lô” còn rất “lính” trong các cuộc đụng độ. Bọn thằn lằn to xác muốn trêu chọc, muốn “cướp cạn” mồi của nó ư? Coi chừng! Con “đeo ba lô” gan góc, lì lợm và quả cảm như một người lính. Nó lăn xả vào đối thủ, chưa bao giờ bỏ chạy – trừ phi bị… rớt xuống sàn nhà! Lũ thằn lằn du côn đâm kiềng mặt, thấy nó là lảng. Chúng ngại cả việc bén mảng đến gần hốc tường, nơi con “đeo ba lô” chọn làm “lãnh địa”. Tránh voi chẳng xấu mặt nào, ông bà xưa đã dạy. Dây với nó, chẳng ăn cái giải gì mà có khi còn bị… đứt đuôi – ý hẳn chúng nghĩ thế. Đôi lúc, vô tình, con “đeo ba lô” có đợp một thằng mối cánh hay một chú bướm đêm ngay trước mũi, chúng cũng lờ đi, ra vẻ “không thèm chấp”.

    Bé Nhi biết hết mọi chuyện. Bé biết, bởi bé là bạn con “đeo ba lô”. Một tình bạn chỉ mình bé hiểu. À không! Không phải chỉ mình bé, con “đeo ba lô” cũng hiểu. Cái tên “đeo ba lô” của nó là do bé đặt. Bé đặt, và con thằn lằn đồng ý, bởi bé thấy nó gục gặc đầu. Đêm, bé ngồi học, con “đeo ba lô” thỉnh thoảng lại mon men bò xuống. Chiếc ba lô xanh xám phập phồng, rung rinh theo mỗi bước chân. Nó nằm trên tường, cách một quãng, giương mắt thân thiện nhìn bé. Bé giơ ngón tay dứ dứ. Con “đeo ba lô” thụt lùi, nhưng không có vẻ gì định chạy trốn. Chắc nó biết bé chỉ muốn đùa. À, bé nhớ ra rồi, “đeo ba lô” là một người lính. Một người lính thì phải biết phân biệt đâu là bạn, đâu là thù. Bé là bạn nó, nó không sợ là đúng. Không như anh Tín nhà bác Hiên – cứ rình bắn thằn lằn cho gà chọi ăn. Những ý nghĩ vui vui diễu qua đầu khiến bé tỉnh ngủ. Bé học bài mau thuộc, làm toán cũng mau ra đáp số hơn. Hôm nào vắng chiếc ba lô thân quen bé lại thấy nhớ, học chưa xong mà cứ buồn ngủ díu mắt…

*

    Đã vào mùa mưa. Những cơn mưa dầm khiến thiêu thân, mối cánh, bướm đêm biến đâu mất sạch. Và lạnh. Cái lạnh đổ về theo gió bấc. Cái lạnh khiến bọn côn trùng ngại chui ra khỏi tổ. Cái lạnh báo động cho lũ thằn lằn một mùa kiếm ăn gian nan. Quân số thằn lằn giảm thấy rõ. Một số rời đi nơi khác. Số còn lại, thỉnh thoảng, đánh nhau dữ dội để tranh những con mồi hiếm hoi. Tình hình con “đeo ba lô” cũng chẳng khá gì hơn. Nhiều hôm, bé Nhi thấy nó túc trực vọng gác cả đêm mà chẳng được một miếng. Nó gầy rộc đi, bước lờ đờ, kéo lê chiếc đuôi xương xẩu. Cứ đà này, không khéo nó chết mất! Bé Nhi lo quá. Tìm gì cho nó ăn bây giờ? Bé sực nhớ ra: À, phải, cơm nguội! Bé đã từng thấy thằn lằn ăn vụng cơm nguội. Bé chạy bay vào bếp vét xoong. Còn sót đâu ba, bốn hạt cơm. Thế là quá đủ. Bé cẩn thận rải cơm vào một mảnh giấy, đặt nơi góc bàn. Phải lánh mặt, kẻo nó sợ. Dẫu biết là bạn, nhưng bé chưa cho con “đeo ba lô” ăn bao giờ…

    Mẹ đang lau nhà. Thấy bé cứ lục đục, mẹ hỏi:

    “Con làm gì thế?”

    “Con… ơ… con… cho ăn…”

    “Hử? Cho ai ăn?”

“Cho… cho con “đeo ba lô”…”

    Mẹ chẳng hiểu đầu tai cua nheo ra sao bèn buông chổi, lau tay vào vạt áo và đến gần. Mắt mẹ tò mò nhìn theo ngón tay bé chỉ.

    “Đâu?”

    “Suỵt…”

    Con thằn lằn đói ngấu đánh hơi thấy mùi cơm. Nó bắt đầu bò xuống – chậm chạp, rụt rè. Nửa đường, nó vụt quay ngoắt, cảnh giác. Nhưng cái đói đã thắng. Nó lại tiếp tục bò. Đến mép bàn, nó chợt lưỡng lự. Bé Nhi nín thở. Mẹ bé cũng nín thở, nhìn lom lom. Kìa, một chân nó đặt lên bàn. Rồi chân nữa…

    Con thằn lằn vồ lấy hạt cơm, gặm ngốn ngấu, đuôi ve vẩy, chiếc ba lô rung rung.

    Mẹ cười, vuốt tóc con gái, thì thầm:

    “Con “đeo ba lô” của con hay nhỉ!”

*

    Dạo này, con “đeo ba lô” làm sao ấy. Đã hết mùa đông từ lâu, nhưng con thằn lằn vẫn chẳng có vẻ gì lại sức. Thân thể nó gầy tọp, chỉ chiếc “ba lô” là mỗi ngày một lớn. Nó đi đứng lử thử, bắt mồi vất vả. Đôi lúc, phần cơm bé Nhi để dành nó cũng chẳng buồn xuống ăn. Thật chẳng hiểu ra sao. Bé Nhi rối cả ruột. Đói ư? Chắc chắn là không. Mùa này, thiêu thân, bướm đêm nhiều vô số, lũ đồng loại của nó cứ gọi là béo nứt. Vả lại, cơm bé dành phần cho nó có bao giờ thiếu. Hay… tại chiếc ba lô? Phải rồi, chiếc ba lô mỗi ngày một to, chắc là nó mang không nổi. Liệu… có cách nào giúp nó không nhỉ? Bé chạy đi hỏi mẹ.

    Mẹ lặng lẽ quan sát con “đeo ba lô”, vẻ lo âu. Giọng mẹ buồn buồn:

    “Không phải. Nó bị bệnh…”

    “Bệnh gì hở mẹ?”

    “Bệnh bướu. Con xem, cái bướu mỗi ngày một to ra…”

    “Thế… có chữa được không hở mẹ?”

    Mẹ không trả lời. Mắt mẹ chợt tối sẫm. Mẹ quay đi như muốn giấu nhanh giọt nước mắt.

*

    Con “đeo ba lô” đã chết!

    Ngót tháng trời, bé Nhi không tin rằng nó chết. Bé vẫn để dành cơm. Những hạt cơm nguội của bé cứ teo dần. Rồi khô quắt. Bé lại nhẫn nại thay cơm khác. Nhẫn nại đợi chờ…

    Hôm qua, mẹ quét mạng nhện, tình cờ phát hiện cái xác cứng quèo, khô đét. Cái xác nằm trong hốc tường, nơi con “đeo ba lô” vẫn dùng làm “vọng gác”. Cả chiếc “ba lô” cũng cứng quèo, khô đét. Vẻ như đến lúc chết, “đeo ba lô” vẫn là một người lính. Một người lính kiên cường bám trụ nơi “vị trí chiến đấu” đến hơi thở cuối cùng…

    Bé Nhi đặt xác con “đeo ba lô” vào hộp giấy, mang đi chôn. Vừa đi, bé vừa khóc. Bé khóc như đã từng khóc trong ngày đưa quan tài chú Hùng ra nghĩa trang. Chiếc quan tài mà bố đã xếp vào trong cả cái ba lô chú từng mang ở chiến trường…

Tác giả: Nguyễn Văn Danh, 54 tuổi, Phú Yên

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *